<>
* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshostyle>
Trong 6 tháng đầu năm 2011, lạm phát đang trở thành vấn đề đề nan giải đối với Việt Nam, theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tính đến tháng 6/2011 tăng 13,29% so với tháng 12/2010 và tăng 20,82% so với cùng kỳ năm 2010. Tình trạng lạm phát cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến đến đời sống của nhân dân, hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp và niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước về triển vọng kinh tế Việt Nam và hiệu quả trong điều hành chính sách vĩ mô của Chính phủ.
Vậy đâu là nguyên nhân sâu xa của tình trạng lạm phát tại Việt Nam trong những năm qua, trước hết chúng ta có thể thấy rằng lạm phát tại Việt Nam trong năm 2011 chỉ là hậu quả từ những bất ổn nội tại nền kinh tế trong những năm qua, đặc biệt trong giai đoạn 2007 – 2010 và là hệ quả tất yếu của việc mất cân đối trong nền kinh tế vĩ mô, thể hiện qua những điểm sau:
(1) Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao nhưng chất lượng thấp. Trong giai đoạn 2007 -2009 tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình đạt mức 25 – 30%, đặc biệt năm 2009 khi Chính phủ thực hiện gói kích cầu trị giá gần 08 tỷ USD để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trên thế giới, trong đó nổi bật là chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17.000 tỷ VNĐ (01 tỷ USD), thì chỉ riêng gói HTLS này đã đưa hơn 400.000 tỷ VNĐ vào lưu thông. Đầu tư của toàn xã hội cũng duy trì mức trên 40% GDP trong giai đoạn 2005 – 2009. Mặc dù có tốc độ tăng trưởng tín dụng và đầu tư toàn xã hội ở mức khá cao so với nhiều quốc giá khác tuy nhiên tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn này chỉ trung bình ở mức 6 – 7%.
(2) Tình trạng đầu tư công dàn trải và thiếu hiệu quả. Theo thống kê mỗi năm Việt Nam đầu tư công khoảng 17-20% GDP, trong khi các nước trong khu vực chỉ dưới 5% như Trung Quốc 3,5%, Indonesia 1,6%; nghiên cứu mới đây nhất của ông Vũ Anh Tuấn - Viện Kinh tế Việt Nam cho thấy quy mô vốn đầu tư công trong 10 năm qua đã tăng tới 3,2 lần, trung bình mỗi năm tăng 13,9 % . Tuy nhiên hiệu quả đầu tư công của Việt Nam hiện còn rất kém, điển hình như hoạt động thua lỗ của Vinashin, công ty cho thuê tài chính VFII. Theo TS. Tô Trung Thành (Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đưa ra tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam: Những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn” do Ủy ban Kinh tế phối hợp với Viện Khoa học xã hội tổ chức 10 - 11/3 tại Cần Thơ cho thấy, hệ số ICOR (đo lường số đơn vị đầu tư tính theo % GDP để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP) tại khu vực nhà nước là 7,8 – cao hơn mức trung bình chung của nền kinh tế là 5,2. Ngay trong Nghị quyết 11, Chính phủ cũng đặt ưu tiên giảm đầu tư công và nâng cao hiệu quả đầu tư công trong thời gian tới;
(3) Tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại diễn ra trong thời gian dài:Trong giai đoạn 2005 – 2010 liên tục gia tăng từ mức 7,1 nghìn tỷ 2005 lên mức 115.900 tỷ đồng năm 2009 và mức 69 nghìn tỷ năm 2010; nhập siêu cũng gia tăng mạnh từ mức 4,3 ỷ USD lên mức 12,2 tỷ USD năm 2009 và ước xấp xỉ 12,4 tỷ USD năm 2010. Mới đây nhất, Bộ Công thương cho biết nhập siêu trong 5 tháng đầu năm 2011 đã lên đến 6,4 tỷ USD. Tình trạng này nếu tiếp tục kéo dài gây khó khăn cho việc hoạch định triển khai chính sách tỷ giá, nỗ lực giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ và quá trình tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Thời gian tới để giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững, Chính phủ phải giải quyết tốt tình trạng thâm hụt ngân sách; tăng trưởng tín dụng phải đi kèm chất lượng đặc biệt trong việc định hướng luồng chảy tính dụng thông qua việc nâng cao hệ thống giám sát và quản lý tín dụng; nâng cao hiệu quả đầu tư công của Chính phủ; giảm thâm hụt thương mại thông qua kích thích nhu cầu tiêu thụ từ trong nước, đồng thời mở rộng thị trường kích thích xuất khẩu.
Với ưu tiên hàng đầu là chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô thì chính sách tiền tệ và tài khóa tiếp tục thắt chặt cho đến hết năm 2011 là cần thiết, tuy nhiên cần cân nhắc tới việc đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế, đặc biệt là trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. thông qua việc sử dụng linh hoạt các công cụ trên thị trường mở, công cụ triết khấu để giải quyết thiếu hụt tiền mặt tạm thời đối với một số ngân hàng, đồng thời cần có biện pháp trung hòa lượng tiền bơm ra này để tránh tình trạng tính dụng tăng nóng trở lại.
<>
* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshostyle>
<>
* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshostyle>
Nguyễn Như Vũ