Giá thịt trên thị trường quốc tế vẫn chưa trở về mức giá của những tháng đầu năm 2007. Trong đó, giá thịt bò là mặt hàng có mức giảm lớn nhất, tiếp theo là thịt cừu và thịt gia cầm. Trong khi đó, giá thịt lợn lại tương đối ổn định. Giá thịt giảm chủ yếu bởi người tiêu dùng hạn chế chi tiêu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đặc biệt tại các nước phát triển.
II. Thịt bò.
Tổng sản lượng thịt bò thế giới năm 2009 dự báo đạt 65,1 triệu tấn, chỉ tăng 0,3% so với 64,9 triệu tấn của năm 2008. Suy giảm đàn bò đầu năm ở châu Đại Dương, Châu Âu, Bắc và Nam Mỹ chắc chắn hạn chế số lượng bò giết mổ và làm giảm sản lượng thịt bò ở những khu vực này. Tuy nhiên, mức suy giảm này sẽ được bù đắp bởi sản lượng tăng tại châu á và châu Phi.
Xuất khẩu thị bò trên thế giới trong năm 2009 dự báo sẽ đạt 6,8 triệu tấn, gần như không thay đổi so với năm 2008 bởi xuất khẩu ở Bắc Mỹ sẽ bù cho phần xuất khẩu giảm của phần còn lại trên thế giới. Xuất khẩu của Braxin, nước xuất khẩu thịt bò lớn nhất thế giới, sẽ giảm xuống còn 1,6 triệu tấn bởi nguồn cung cho xuất khẩu giảm. Xuất khẩu thịt bò của Mỹ được dự báo sẽ tăng 12%, đạt 900 ngàn tấn, sau khi thị trường Hàn Quốc được mở lại cho thịt bò Mỹ. Tuy nhiên, mức xuất khẩu này vẫn thấp 200 ngàn tấn so với mức xuất khẩu trước khi xảy ra trường hợp bệnh bò điên (BSE) vào năm 2003. Nhu cầu nhập khẩu thịt bò trên thế giới sẽ chỉ tăng nhẹ so với năm 2008, nhờ mức tăng nhẹ nhập khẩu tại các nước phát triển, đặc biệt là EU, Nhật Bản và Mỹ. Tuy nhiên, nhập khẩu sẽ giảm ở Nga do suy giảm kinh tế hạn chế nhu cầu tiêu dùng và giảm tại Hàn Quốc do sản xuất trong nước tăng.
Giá thịt bò trong những tháng tới được dự báo sẽ ổn định do ảnh hưởng hạn chế của suy giảm kinh tế và hạn chế nhập khẩu
Tham khảo sản lượng thịt thế giới
|
|
2007
|
2008
|
2009(1)
|
Thay đổi 2009 so với 2008(%)
|
|
Triệu tấn (%)
|
|
S¶n lîng
|
274,4
|
282,1
|
285,6
|
1,2
|
|
- Thịt bò
|
65,1
|
64,9
|
65,1
|
0,3
|
|
Thịt gia cầm
|
90,1
|
93,7
|
94,7
|
1,1
|
|
- Thịt lợn
|
99,8
|
103,9
|
106,1
|
2,1
|
|
- Thịt cừu
|
14,0
|
14,2
|
14,2
|
0,5
|
|
Thương mại
|
23,1
|
24,6
|
23,4
|
-4,8
|
|
- Thịt bò
|
6,9
|
6,9
|
6,8
|
0,4
|
|
- Thịt gia cầm
|
9,8
|
10,5
|
10,2
|
-3,1
|
|
- Thịt lợn
|
5,2
|
6,1
|
5,4
|
-11,3
|
|
- Thịt cừu
|
0,9
|
0,9
|
0,9
|
0,7
|
Ghi chú: (1) Dự báo
III. Thịt cừu.
Tổng sản lượng thịt cừu thế giới năm 2009 chỉ tăng nhẹ (0,5%), đạt 14,2 triệu tấn. Tại Châu Đại Dương, sản lượng ở Ôxtrâylia tăng đã bù đắp cho sự sụt giảm tại Niu Dilân. Triển vọng mậu dịch thịt cừu thế giới thời gian tới vẫn sẽ ổn định ở mức 860 ngàn tấn. Tại Niu Dilân, sản lượng giảm cùng với việc đồng bản tệ mạnh lên sẽ là yếu tố khiến sản lượng xuất khẩu thịt của nước này năm 2009 sụt giảm.
IV. Thịt lơn.
Tổng sản lượng thịt lợn thế giới năm 2009 dự báo đạt 106,1 triệu tấn, tăng 2,1% so với năm 2008, phục hồi sau khi bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh tai xanh trong năm 2007.
Mởu dịch thịt lợn thế giới năm 2009 dự báo đạt 5,4 triệu tấn, giảm 11,3% do người tiêu dùng e ngại có thể có mối quan hệ giữa chủng cúm A/H1N1 với cúm lợn đã làm hạn chế nhu cầu nhập khẩu. Sau khi tăng lên mức cao kỷ lục trong năm 2008, dự báo sẽ giảm trong năm 2009, chủ yếu phản ánh nhu cầu nhập khẩu trên thế giới giảm.
V. Thịt gia cầm.
Tổng sản lượng thịt gia cầm thế giới năm 2009 dự báo đạt 94,7 triệu tấn, điều chỉnh giảm so với dự báo đưa ra hồi tháng 11/2008 do dịch cúm gia cầm tại châu á và tăng 1,1% so với năm 2008. Mặc dù giá thức ăn chăn nuôi – yếu tố cấu thành chính lên giá thịt gia cầm giảm so với giá thịt gia cầm trong quý 4/2008, song mối tương quan này đã đảo chiều trong năm 2009 khi nhu cầu tiêu dùng bắt đầu giảm, báo trược một năm lợi nhuận thấp, thậm chí nhiều dự báo bi quan là thua lỗ.
Tại châu á, sản lượng thịt gia cầm dự báo sẽ tăng ở hầu hết các nước. Tốc độ tăng trưởng sản lượng ở Trung Quốc dự báo sẽ chậm lại, xuống còn 3% do nhu cầu trong nước thấp. Trước đây, tiêu dùng thịt gia cầm tại Trung Quốc được hỗ trợ bởi sức mua tăng, đặc biệt ở cư dân tại các thành thị, song tăng trưởng hiện chịu sức ép của khủng hoảng tài chính quốc tệ hiện nay. Triển vọng tăng trưởng ở ấn Độ, Inđônêxia, Iran và Thái Lan là tích cực.
Tại bắc Mỹ, giá gà giò bán buôn tại thị trường Mỹ có xu hướng tăng trong đầu năm 2009 do nhu cầu ổn định trong khu cung ứng căng thẳng, bị hạn chế bởi giá thức ăn chăn nuôi cao. Những chỉ số sơ bộ về suy giảm sản xuất gia cầm ở Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy sản lượngcó thể giảm 3%, xuống còn 19,3 triệu tấn. Tại Châu Âu, xuống còn 9%, giảm mạnh so với mức tăng bình quân 16% của hai năm trước. Sản lượng thịt gia cầm của EU27 dự báo it thay đổi.
Tại Nam Mỹ, sản lượng của Braxin dự báo sẽ chỉ tăng 2% trong năm 2009 do hiệp hội các nhà xuất khẩu thịt gia cầm Braxin (ABEF) kêu gọi nông dân giảm sản xuất do xuất khảu vì tình hình thị trường thế giới khó khăn.
Mậu dịch thịt gia cầm thế giới cũng đã được điều chỉnh giảm xuống còn 10,2 triệu tấn trong năm 2009, giảm 3,1% so với năm 2008, mặc dù giá thịt gia cầm tương đối thấp so với giá các loại thị khác. Xuất khẩu của Mỹ sẽ giảm về mức của năm 2007 do lợi nhuận giảm và Nga – thị trường xuất khẩu quan trọng của Mỹ giảm hạn ngạch nhập khẩu. Tăng trưởng xuất khẩu của Braxin sẽ chậm lại do nguồn tín dụng suy giảm. Ngoài ra, xuất khẩu của Braxin sang Trung Quốc đã bị ngưng trệ đầu năm 2008, khi dấy lên nghi ngờ về nguồn gốc sản phẩm tại một công ty đã đăng ký. Braxin và Trung Quốc đang tiếp tục thảo luận để thiết lập quy trình thanh tra giám sát các nhà sản xuất để tiến tới dỡ bỏ những hạn chế nhập khẩu này. Về phía nhập khẩu, Trung Quốc, Liên bang Nga và Ucraina sẽ giảm nhập khẩu