Sản xuất: Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, trong quý III sản lượng thịt tại Mỹ năm 2009 sẽ tăng, đặc biệt sản lượng thịt lợn và thịt gia cầm sẽ tăng nhiều hơn sản lượng thịt bò. đây cũng là su thế của sản lượng gia cầm tại nước này. Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng thịt gia cầm quý III năm 2009 đạt khoảng 20 triệu tấn, giảm 3,2% so với quý III năm 2008. Con số dự báo năm 2010 sẽ ở mức gần 80 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm trước.
Theo báo cáo thống kê của Canada, số lượng nuôi tại nước này có xu hướng giảm trong những tháng của quý III-2009. Số lượng nuôi gia súc trong tháng 8 khoảng 175.322 đầu con, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm 2008 và giảm 3,8% so với hai năm trớc đó. Con số của tháng 9 là 631.415 đầu con, giảm 8,4% so với năm ngoái và giảm 20,8% so với hai năm trớc đó.
Bảng 1: Xuất khẩu thịt lợn của Mỹ (Nguồn: Báo cáo thịt quốc tế, USDA Đơn vị: Tấn)
* Tổng sản lượng thịt lợn xuất khẩu bao gồm cả các sản phẩm thịt lợn
|
Thị trường
|
Thịt lợn 7/2009
|
Các sản phẩm thịt lợn 7/2009
|
Dự báo năm 2009*
|
Năm 2008*
|
% thay đổi so với năm 2008
|
|
Nhật Bản
|
35.391
|
508
|
258.085
|
257.493
|
0,2%
|
|
Mêxico
|
17.278
|
29.184
|
272.506
|
185.915
|
46,6%
|
|
Canada
|
12.207
|
1.451
|
91.821
|
95.031
|
-3,4%
|
|
Hàn Quốc
|
4.714
|
1.300
|
66.462
|
79.544
|
-16,4%
|
|
Trung Quốc
|
640
|
43
|
33.939
|
125.484
|
-73,0%
|
|
Đài Loan
|
1.836
|
806
|
19.960
|
15.071
|
32,4%
|
|
Nga
|
15.835
|
3.039
|
75.244
|
106.941
|
-29,6%
|
|
Hồng Kông
|
7.797
|
7.443
|
94.829
|
32.193
|
194,6%
|
|
Các nớc khác
|
13.569
|
2.658
|
120.181
|
135.245
|
-11,1%
|
|
Tổng
|
121.174
|
25.574
|
1.033.026
|
1.146.517
|
-9,9%
|
2.Thị trờng:
Thịt lợn: Theo báo cáo của USDA, xuất khẩu thịt lợn và các sản sản phẩm thịt lợn tháng 7-2009 tại Mỹ đạt 146.748 tấn, tăng 14,9% so với tháng trớc nhng vẫn thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm ngoái. trong đó thịt lợn đỏ tơi xuất khẩu 43.313 tấn, tăng 5,2% so với tháng trước, giảm 17,6% so với cùng kỳ năm ngoái; thịt lợn đông lạnh xuất khẩu 63.432 tấn, tăng 22,2% so với tháng trước, nhưng vẫn giảm 17,3% so với tháng 7/2008.
Thị trường chính của mặt hàng này là Mêxico và Nhật Bản. dự kiến năm 2009, xuất khẩu thịt lợn Mỹ sang thị trường Nhật Bản sẽ không có gì thay đổi gì so với năm 2008, đạt khoảng 258,085 tấn. Năm 2009, Hồng Kông là thị trường thịt lợn của Mỹ khá mạnh, dự kiến đạt94.824 tấn, tăng 194,6% so với năm ngoái. Tổng lượng thịt lợn xuất khẩu và các sản phẩm thịt lợn khác của Mỹ năm 2009, dự kiến đạt 1.033.026 tấn, giảm 9,9% so với năm 2008.
Bảng 2: Nhập khẩu thịt lợn tại Mỹ (Nguồn: Báo cáo thịt quốc tế, USDA Đơn vị tính: Tấn)
* Tổng sản lượng thịt lợn nhập khẩu bao gồm cả các sản phẩm thịt lợn
|
Thị trường
|
Thịt lợn NK 7/2009
|
Dự báo NK thịt lợn năm 2009*
|
Năm 2008*
|
% thay đổi
|
|
Canada
|
25.338
|
166.789
|
160.131
|
4,2%
|
|
Đan Mạch
|
3.658
|
22.331
|
24.544
|
-9,0%
|
|
Khác
|
2.087
|
14.870
|
23.015
|
-35,4%
|
|
Tổng
|
31.083
|
203.990
|
207.689
|
-1,8%*
|
Mỹ cũng là nước nhập khẩu thịt lợn với khối lượng của tháng 7-2009 là 31.083 tấn, tăng 10% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ năm 2008. Đặc biệt thịt lợn đỏ là 18.347 tấn, tăng 12,7% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tổng khổi lượng thịt lợn nhập khẩu vào Mỹ năm 2009 dự kiến đạt khoảng 203.990 tấn, giảm 1,8% so với năm 2008. Canada là nớc xuất khẩu chính vào thị trường Mỹ: chiếm 81,8% thị phần đạt 25.338 tấn trong tháng 7-2009, tăng 11,9% so với tháng trước. Dự báo năm 2009 tổng lượng thịt lợn nhập khẩu từ nước này sẽ ước đạt 166.789 tấn, tăng 4,2% so với năm 2008.
Thịt bò: Xuất khẩu thịt bò Mỹ dự báo sẽ giảm khoảng 8% trong năm 2009. Theo báo cáo mới nhất của USDA 7-2009 xuất khẩu thịt bò, bê và các sản phẩm chế biến từ thịt bò đạt 76.792 tấn, giảm nhẹ so với tháng 6/2009 và giảm 22,45 so với tháng 7-2008. Trong đó xuất khẩu thịt bò đỏ đạt 33.743 tấn, giảm 11,8% so với tháng 6-2009 và giảm 22,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ tháng 7-2008.
Thị trường chính của mặt hàng này là Mêxicô và Canada. Dự báo năm 2009, xuất khẩu thịt bò Mỹ sang thị trường Mêxico giảm 25,1% so với năm 2008 với khối lượng ước đạt 180.347 tấn; Canada đạt khoảng 83.997 tấn, giảm 12,4% trong khi đó khối lượng xuất sang thị trường Nhật Bản ước đạt 52.154 tấn, tăng 17,6% và tăng mạnh tại thị trường Hồng Kông đạt 11.130 tấn (111.4%). Tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của Mỹ năm 2009 dự kiến đạt 512.103 tấn, giảm 5,8% so với năm 2008.
Bảng 3: Thị trường xuất khẩu thịt bò Mỹ Nguồn: Báo cáo thịt quốc tế, USDA ĐVT: Tấn
* Tổng sản lượng thịt bò xuất khẩu bao gồm cả các sản phẩm thịt bò
|
Thị trờng
|
Thịt bò 7/2009
|
Các sản phẩm thịt bò 7/2009
|
Dự báo năm 2009*
|
Năm 2008*
|
% thay đổi so với năm 2008
|
|
Nhật Bản
|
10.209
|
1.628
|
52.154
|
44.340
|
17,6%
|
|
Mexĩco
|
17.278
|
7.632
|
180.347
|
240.943
|
-25,1%
|
|
Hàn Quốc
|
2.674
|
95
|
28.442
|
1.862
|
1427,5%
|
|
Canada
|
11.520
|
1.171
|
83.997
|
95.857
|
-12,4%
|
|
Ai Cập
|
1.456
|
7.271
|
45.988
|
45.940
|
0,1%
|
|
Hồng Kông
|
2.756
|
-
|
11.130
|
5.264
|
111,4%
|
|
Nga
|
536
|
1.387
|
9.808
|
17.136
|
-42,8%
|
|
Đài Loan
|
2.689
|
-
|
15.072
|
16.505
|
-8,7%
|
|
Các Nớc khác
|
4.712
|
3.778
|
85.167
|
76.034
|
12,0%
|
|
Tổng
|
53.830
|
22.962
|
12.103
|
43.881
|
-5,85
|
Về nhập khẩu, dự kiến tổng lượng thịt bò, bê nhập khẩu vào Mỹ năm 2009 đạt 557.767 tấn tăng 13% so với năm ngoái, từ các nước nh úc, Canada, Niu Di Lân, U ru guay, Braxin,… riêng trong tháng 7-2009, Mỹ nhập khẩu 79.851 tấn, giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó nhập khẩu thịt bò đỏ đạt 28.302 tấn, giảm 1,8% so với tháng trước nhưng tăng 13,6% so với cùng kỳ năm ngoái; thịt bò đông lạnh đạt 5.567 tấn, giảm 1,7%so với tháng trước nhưng tăng 29% so với cùng kỳ tháng 7-2008.
Dự kiến năm 2009 Mỹ sẽ nhập khẩu thịt bò từ Úc khoảng 175.743 tấn tăng 48,2% so với năm 2008. úc là thị trường cung cấp thịt bò nhập khẩu lớn nhất cho Mỹ, chiếm khoảng 31,5% trong tổng lợng thịt bò nhập khẩu. Đứng thứ 2 là Canada, tháng 7-2009 Mỹ nhập khẩu 23.412 tấn thịt bò từ Canada, giảm nhẹ so với tháng trước. Dự báo năm 2009 lợng thịt bò từ Canada vào Mỹ sẽ giảm 3,5% so với năm ngoái, với mức 160.839 tấn.
Tại Nhật Bản, nhập khẩu thịt bò trong tháng 6-2009 đạt 47.642 tấn, tăng 47,5% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2008. Úc là một trong những nước có nguồn cung về thịt bò lớn nhất cho thị trường Nhật Bản, chiếm 78,7% tổng sản lượng nhập khẩu. Trong tháng 9, Nhật Bản nhập khẩu khoảng 36.656 tấn thịt bò từ Úc, tăng 46,7% so với tháng trước. Dự báo tổng lượng thịt bò nhập khẩu từ Úc năm 2009 đạt khoảng 181.416 tấn tăng 1,3% so với năm ngoái.
Diễn biến giá: Theo USDA, giá thịt lợn quý III-2009 tại Mỹ dao động từ 38$-39$ cwt giảm so với năm 2008. Dự kiến quý VI-2009 giá lợn hơi giảm mạnh hơn, xuống 35$-37$, giảm hơn 14% so với cùng kỳ năm 2008.
Giá thịt lợn giao kỳ hạn tại thị trương Chicago-Mỹ co biến động nhẹ theo chiều hướng tăng tại thời điểm cuối tháng 8 đầu tháng 9. giá thịt rọi đông lạnh giao kỳ hạn tháng 2-10 tăng nhẹ, giá tăng từ 79,54 Uscent/lb (20/8) lên 84,6 Uscent/lb (18-9) Giá lợn hơi giao kỳ hạn tháng 10-2009 cũng tăng từ mức 46,43 Uscent/lb (20-8) lên 50,8 Uscent/lb (18-9)
II. Sản xuất và thị trường trong nước
Sản xuất. Theo báo cáo thống kê 9 tháng đầu năm 2009, tình hình phát triển chăn nuôi gia súc không có biến động lớn. Đối với chăn nuôi bò sữa, dê và cừu hiện nay đang có thuận lợi trong sản xuất kinh doanh nên giá giống cao. Tại Ninh Thuận, giá thịt dê, thịt cừu bình quân hiện nay 50.000 đồng/kg hơi. Giá dê cừu giống từ 2,0-2,4 triệu đồng/con giống (khoảng 20kg/con). Giống bò sữa có sản lượng 20 lít /ngày giá từ 24-30 triệu đồng/con.
Thị trường: hiện nay, nhập khẩu thịt bò vào thị trường Việt Nam đang giảm với cùng kỳ năm 2008.Thịt bò Ấn Độ vẫn là thị trường cung cấp thịt bò mạnh nhất cho Việt Nam, chiếm 71,3% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Tuy nhiên so với năm 2008, nhập khẩu thịt bò từ Ấn Độ giảm 11% về kim ngạch, tương đương giảm 11,3 triệu USD. đứng thứ hai sau Ấn Độ là Úc, chiếm 17% kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2009 đạt gần 2,4 triệu USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2008. Việt Nam nhập khẩu gia cầm chủ yếu từ 2 quốc gia Mỹ và Braxin, tuy nhiên kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đầu năm từ hai nước này đều giảm mạnh.
Nhập khẩu thịt gia cầm từ Mỹ chỉ đạt 32,7 triệu USD, giảm 38% so với cùng kỳ năm 2008; Braxin đạt khoảng 10 triệu USD, giảm hơn 1 nửa so với cùng kỳ năm 2008 với kim ngạch nhập khẩu gần 22,3 triệu USD. Dự báo, trong những tháng tới nhập khẩu thịt của Việt Nam sẽ tiếp tục giảm do các doanh nghiệp lo ngại rủi ro hàng nhiễm khuẩn và do nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm từ thịt nhập khẩu hiện nay cũng giảm khá mạnh.
Biến động giá: Giá thịt quý III-2009 biến động nhẹ, cụ thể tại Đắc Lắc, giá lợn hơi giảm nhẹ từ 27.000 đồng/kg, giảm 3.000 đồng/kg.So với đầu tháng 8 thịt lợn mông giảm từ 5.000 – 6.000 đồng/kg.
Giá thịt bò các loại ổn định trên hầu hết các thị trường, riêng tại Cần Thơ và Đà Nẵng, giá thịt bò đùi tăng 2.500 đồng/kg lên mức 110.000- 115.000 đồng/kg. giá lợn hơi trên 80kg tại An Giang tăng 5.000 đồng/kg lên mức 31.000-32.000 đồng/kg; tại Tiền Giang tăng 500 đồng /kg lên mức 35.500 đồng/kg.
Theo đó, giá thịt lợn mông sấn tại Cần Thơ, TP. HCM và Hà Nội tăng 1.000 đồng/kg,lên lần lợt các mức 58.500 - 51.000- 64.000 đồng/kg; tại Đà Nẵng tăng 1.500 đồng/kg lên mức 61.500 đồng/kg, tại Kiên Giang tăng 1.250 đồng/kg lên 61.250 đồng/kg. giá thịt gà công nghiệp đã làm sãn tại Lâm Đồng tăng 1.000 đồng lên mức 43.000 đồng/kg, tại Hà Nội giảm 1.000 đồng/kg xuống còn 62.500 đồng/kg.
Trong tháng 9/2009 giá một số nguyên liệu thức ăn thức ăn chăn nuôi trong nớc cũng như nhập khẩu đã giảm so với tháng 8/2009. Cụ thể đỗ tương khô có giá 8.925 đồng/kg, giảm 5,1%; bột cả sản xuất trong nước 60% Protein: 16.200 đồng/kg, giảm 4,7%. Trong khi đó một số nguyên liệu khác lại tăng nhẹ: ngô 4.350 đồng/kg, tăng 1,3% so với tháng 8/2009: cám gạo 4.410 đồng/kg, tăng 0,2%; sắn khô 3.549 đồng/kg, tăng 2,9%; lyzin 35.000 đồng/kg, tăng 9,4%; Methionin 98.000 đồng/kg không tăng so với tháng trớc.
Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm hiện nay đang ổn đinh ở mức: cám gà broiler 7.000 đồng/kg; cám lợn giai đoạn từ 60 kg đến xuất chuồng giữ giá 5.800 đồng/kg.
Dự báo những tháng cuối năm của thị trường thịt ssẽ có biến động mới về giá do người nuôi giảm đàn. Đặc biệt vào dịp tết nguyên đán, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng thịt này sẽ tăng rất mạnh. Hơn nữa, những thông tin về thịt nhập khẩu kém chất lượng trong thời gian gần đây khiến người tiêu dùng giảm lượng nhu cầu tiêu thụ thịt nhập khẩu và quay trở lại với các sản phẩm thịt trong nước. Do vậy những tháng cuối năm giá các mặt hàng thịt trong nước được dự báo sẽ tăng cao.