<>
* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshostyle>
1. Sản xuất kinh doanh
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2011 chậm hơn so với cùng kỳ năm trước do Nghị quyết 11/NQ-CP ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Theo đó, tổng sản phẩm quốc nội 9 tháng đầu năm 2011 tăng 5,75%; khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 2,45%; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 6,68% và khu vực dịch vụ tăng 6,29%. Khu vực công nghiệp – xây dựng có mức đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế. Cụ thể:
Khu vực công nghiệp
Bước vào năm 2011, ngành công nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, do: việc tăng giá của nhiều nhóm hàng đầu vào quan trọng; giá cả một số nguyên vật liệu, hàng hoá tăng trên thị trường thế giới cộng hưởng với việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND liên ngân hàng tăng 9,3% (từ 11/02/2011); mức lãi suất cho vay cao, trong khi phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có nguồn vốn hoạt động là từ vốn vay ngân hàng.….
Tuy nhiên, từ quý II/2011, tình hình được xem là đã đi vào ổn định hơn sau nhiều biến động của tình hình kinh tế vĩ mô trong quý I, đồng thời các doanh nghiệp cũng đã chuẩn bị phương án sản xuất cho mình nên khu vực công nghiệp vẫn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hợp lý so với cùng kì năm trước. Trong điều kiện đó, tính chung 9 tháng đầu năm 2011, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước.
Khu vực nông nghiệp
Những tháng đầu năm 2011, tình hình thời tiết xấu đã có những ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung. Thời tiết diễn biến phức tạp, rét lạnh kéo dài ở miền Bắc, mưa ít gây hạn hán trên diện rộng, nước mặn xâm nhập sâu tại các cửa sông, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL.
Về chăn nuôi, mặc dù sản lượng chăn nuôi tăng, nhưng một số dịch bệnh như lợn tai xanh, cúm gia cầm, lở mồm long móng… đã xảy ra trên cả nước. Đáng chú ý nhất là việc thiếu hụt nguồn cung thịt lợn do người chăn nuôi chưa kịp tái đàn sau dịch bệnh từ cuối năm 2010 đến đầu năm 2011. Bên cạnh đó, sản lượng thịt xuất ra không đều giữa hai miền Nam, Bắc gây ra tình trạng giá lợn hơi tăng mạnh và có chênh lệch lớn giữa các vùng.
Bên cạnh đó, toàn ngành cũng đứng trước những bất lợi về thị trường và giá cả. Giá cả hàng hóa nói chung và giá các loại vật tư đầu vào cho sản xuất (xăng dầu, điện, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí lao động...) tăng cao.
Điều này đã làm cho tăng trưởng ngành nông nghiệp trong 2 quý đầu năm 2011 chỉ đạt mức 2,08%, giảm mạnh so với mức tăng trưởng 3,46% của cùng kỳ năm 2010.
Quý III/2011, ngành nông nghiệp đã thu hoạch xong toàn bộ diện tích lúa hè thu với năng suất cao, đồng thời tiến hành gieo trồng, chăm sóc lúa mùa, lúa thu đông. Khu vực chăn nuôi vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, việc tái đàn các đàn gia súc vẫn rất khó khăn do người dân thiếu vốn, khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Điều này đã làm cho việc thiếu hụt nguồn cung thịt lớn tiếp tục xảy ra trong tháng 7, tháng 8. Tính chung 9 tháng đầu năm 2011, tăng trưởng ngành nông nghiệp ước đạt 2,45%
Khu vực dịch vụ
Những tháng đầu năm, mặc dù là thời điểm thuận lợi để tăng doanh thu từ khu vực dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ phục vụ tiêu dùng và vui chơi dịp Tết âm lịch, nhưng trong điều kiện khó khăn chung của toàn nền kinh tế, ngành dịch vụ cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Trong đó, ngành du lịch được xem là bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi những diễn biến không thuận từ thị trường. Tính chung, 6 tháng đầu năm 2011 khu vực dịch vụ chỉ đạt mức tăng trưởng 6,12%, giảm mạnh so với mức tăng 7,05% của cùng kỳ năm 2010.
Tuy nhiên, sang nửa đầu quý III/2011, ngành du lịch và kinh doanh dịch vụ lưu trú có nhiều điều kiện để tăng doanh thu do đây là thời điểm mà nhiều đối tượng khách hàng lựa chọn đi nghỉ mát và du lịch.
2. Lạm phát
Tám tháng đầu năm 2011, chỉ số tiêu dùng tăng cao. Điều đặc biệt là mặc dù tháng 7, CPI mức tăng CPI đã chậm lại, chỉ còn 1,17% so với tháng trước, nhưng đây là lần đầu tiên CPI theo tháng tăng cao hơn tháng tương ứng của năm có lạm phát cao kỷ lục 2008, trở thành mức tăng cao nhất trong các tháng 7 của khoảng 15 năm trở lại đây. Nếu so với cùng kỳ tháng 7 năm ngoái, CPI tháng 7/2011 đã tăng tới 22,16%, thế chỗ mức tăng 20,82% của tháng trước. Đến tháng 8/2011 chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 0,93% so với tháng trước, mức tăng đã giảm nhiều và đây là tháng có chỉ số giá tiêu dùng dưới 1% sau 11 tháng. Như vậy, CPI bình quân tám tháng đầu năm tăng 17,64% so với bình quân cùng kỳ năm 2010. Đây thực sự là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 11 nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Bước sang tháng 9, tình hình giá cả một số mặt hàng trong tháng 9/2011 có dấu hiệu ổn định hơn:
Giá cả một số mặt hàng trong tháng 9 ít biến động, đặc biệt là nhóm hàng hóa thực phẩm, do nguồn cung tương đối dồi dào. Cụ thể một số nhóm hàng hóa như sau:
- Thực phẩm: giá thực phẩm rau quả nhìn chung ổn định và có chiều hướng giảm. Nguyên do là nguồn cung tương đối dồi dào, thêm vào đó giá xăng giảm 500 đồng một lít làm cho chi phí vận chuyển phần nào giảm bớt, với mức giảm dao động từ 10% đến 20% tùy mặt hàng. Thời tiết thuận lợi do tác động của các đợt mưa nhiều đã khiến nhiều loại rau ăn lá ngoại thành Hà Nội sinh trưởng tốt, nhờ đó tăng mạnh nguồn cung và giá giảm. Nhiều loại rau như cải xanh, rau muống, rau lang, mùng tơi... khiến mặt bằng giá chung giảm. Cùng với rau xanh, nhiều thực phẩm tươi sống cũng theo đà giảm giá. Giá thịt lợn, thịt bò tại một số siêu thị như Hapro, Fivimart... vẫn duy trì mức thấp so với giá chung trên thị trường. Chỉ có một số thực phẩm khác như thịt gà, cá... vẫn giữ mức giá ổn định so với cùng kỳ tháng trước.
- Giá thuốc: trên địa bàn Hà Nội đã có sự điều chỉnh tăng giảm tùy theo từng sản phẩm.
- Giá xăng dầu: ngày 26/8, giá xăng đã được Bộ Tài chính điều chỉnh giảm 500 đồng mỗi lít và giá dầu giảm 300 đồng. Theo đó, giá xăng A92 từ 21.300 đồng giảm còn 20.800 đồng một lít, giá dầu diezel 0,05S từ 21.100 đồng còn 20.800 đồng một lít, giá dầu hỏa từ 20.800 đồng về mức 20.500 đồng mỗi lít.
- Xi măng, sắt thép: những ngày đầu tháng 9, giá xi măng tại các công ty sản xuất xi măng ổn định. Giá sắt thép đã có sự điều chỉnh tăng nhẹ.
- Giá phân bón: Giá phân bón trong tháng 9 có xu hướng tăng. Hiện tại, dù nhu cầu sử dụng phân bón giảm mạnh bởi diện tích xuống giống lúa thu đông đã giảm so với 2 vụ trước đó, tuy nhiên, giá phân bón trong tháng 9 này vẫn tăng mạnh. Giá các loại phân bón như urê, DAP, kali trên thị trường đã tăng 50-70%. So với tháng 7 và tháng 8, giá các loại phân đã tăng bình quân 700 - 1.000 đồng/kg.
3. Tài chính tiền tệ
Trong 9 tháng vừa qua, diễn biến thị trường tiền tệ chịu tác động mạnh từ thực thi các chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng của NHNN để kiểm soát lạm phát, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống. Kết quả tổng phương tiện thanh toán tính đến ngày 30/8 tăng 9,16% so với cuối năm 2010, thấp hơn mức tăng 19,87% và 16,41% của cùng kỳ năm 2009 và 2010; tín dụng đến ngày 30/8 tăng 8,85% so với cuối năm 2010, thấp hơn mức tăng 16,9% của cùng kỳ năm 2010, bằng khoảng 50% tốc độ tăng trưởng tín dụng dự kiến cả năm 2011 (khoảng 15-18%). Điều này phù hợp với mục tiêu kiểm soát kiềm chế lạm phát của Chính phủ đặt ra.
Cơ cấu tín dụng chuyển hướng tích cực: Đến cuối tháng 8, tín dụng đối với lĩnh vực sản xuất tăng 14,79%, trong đó tín dụng nông nghiệp, nông thôn tăng 30,5%; tín dụng xuất khẩu tăng 35,02%; tín dụng phi sản xuất giảm -16,95%, trong đó, dư nợ cho vay để đầu tư, kinh doanh chứng khoán giảm -43,03%, dư nợ cho vay để đầu tư kinh doanh bất động sản giảm -10,1%, dư nợ cho vay tiêu dùng giảm -23,12%.
Thị trường ngoại hối có nhiều cải thiện: Thị trường ngoại hối và tỷ giá biến động mạnh trong hơn 3 tháng đầu năm nhưng đã ổn định trở lại sau khi NHNN điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giảm biên độ giao dịch cùng với các biện pháp quản lý thị trường tự do. Thị trường ngoại hối phản ứng tích cực, ổn định, phản ánh quy luật cung – cầu, tỷ giá được kiểm soát trong biên độ cho phép, chênh lệch tỷ giá thị trường chính thức và thị trường tự do thu hẹp, hoạt động thị trường ngoại tệ chính thức được đẩy mạnh, các NHTM cân đối được nguồn cung ngoại tệ từ tổ chức kinh tế và dân cư, thực hiện bán ngoại tệ cho NHNN tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước. Dự trữ ngoại tệ tăng từ 7,5 tỷ USD trong quý 1 lên khoảng 15 tỷ USD.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực đó, thị trường tiền tệ 9 tháng đầu năm gặp rất nhiều khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, lãi suất huy động và cho vay tăng cao, lượng tín dụng cho vay thu hẹp mạnh, khiến khả năng tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp và người dân rất khó khăn, là một trong những nguyên nhân chính khiến hoạt động sản xuất kinh doanh 9 tháng đầu năm của các DN sụt giảm mạnh, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng có nguy cơ phải phá sản. Cá biệt có thời điểm lãi suất cho vay lên đến 27 – 29%/năm và các khoản vay cho tiêu dùng, lĩnh vực phi sản xuất gần như không thể tiếp cận. Trước các biện pháp điều hành mạnh mẽ của NHNN từ cuối tháng 8, một số TCTD hạ lãi suất đối với một số khoản cho vay sản xuất kinh doanh thông thường (cho lĩnh vực nông nghiệp, xuất nhập khẩu, DNVVN) trong biên độ 17-19%/năm. Tuy nhiên, hiện không nhiều doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay lãi suất hạ này. Cải thiện rõ rệt nhất là tín dụng cho vay được mở rộng hơn do dư địa cho vay trong hệ thống ngân hàng còn nhiều so với mức mục tiêu 20% cả năm của NHNN. Các điều kiện cho vay mở hơn nhưng chủ yếu vẫn ở mức lãi suất 22-24%/năm. Song mặt trái của biện pháp hạ lãi suất hiện nay là các ngân hàng đang đối mặt tình trạng người gửi rút vốn khỏi hệ thống, khó khăn tình trạng thanh khoản đang hiện hữu.
Thứ hai, thanh khoản VND và ngoại tệ của hệ thống các TCTD gặp nhiều khó khăn. Thanh khoản VND căng thẳng trong 4 tháng đầu năm và chỉ được cải thiện kể từ nửa cuối tháng 5/2011. Song từ cuối tháng 8 đến nay tình trạng căng thẳng lại bắt đầu xuất hiện, biểu hiện ở lãi suất liên ngân hàng tăng cao và hàng loạt các biện pháp hỗ trợ của NHNN đã phải áp dụng. Trước sức ép này, NHNN đã phải hỗ trợ các NHTM nhỏ đang yếu thanh khoản với các biện pháp tăng kỳ hạn cho vay trên thị trường mở từ 7 ngày lên 14 ngày, tăng vốn bơm ròng trên thị trường mở, duy trì lãi suất liên ngân hàng qua đêm dưới 13%/năm,...Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ tăng cao đang gây khó khăn cho thanh khoản ngoại tệ của các NH trong những tháng cuối năm. Tính đến 20/7/2011, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ lên đến trên 24% so với cuối năm 2010 và diễn biến tiếp tục tăng trong tháng 8. Cụ thể 2 thành phố lớn tính đến 31/8, tăng trưởng dư nợ VND trên địa bàn Hà Nội tăng 6,94%, dư nợ ngoại tệ tăng 21,79% so với cuối năm 2010; còn tại TP.HCM, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ đạt 231.200 tỉ đồng, chiếm 30,7% tổng dư nợ, tăng 25,8% so cùng kỳ. Quy đổi với tỷ giá 20.830 đồng/USD thì các ngân hàng ở TP.HCM đã cho vay khoảng 11,089 tỉ USD. Tình trạng tăng trưởng tín dụng như hiện nay dẫn đến nguy cơ áp lực cầu tín dụng đến kỳ đáo hạn cuối năm như kịch bản năm 2010.
<>
* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshostyle>
Thứ ba, áp lực tăng tỷ giá vào dịp cuối năm lại xuất hiện. Kể từ ngày 11 tháng 8, tỷ giá giao dịch của các NHTM liên tục ở trạng thái kịch trần biên độ cho phép. Tình trạng khó khăn trong mua USD tại các NH lại tái diễn, phí mua ngoại tệ tại NH lại xuất hiện với mức khoảng 100VND/USD, tỷ giá USD trên thị trường tự do chênh lệch cao hơn tỷ giá giao dịch trong thị trường chính thức, cao nhất có thời điểm mức chênh lệch lên tới gần 200 đồng/USD. Trên thị trường USD tự do, hiện giá USD đang được mua - bán ở mức 21.010 – 21.040 đồng/USD. Những cảnh báo trước đây về tình trạng khan hiếm ngoại tệ và áp lực tăng tỷ giá trở thành hiện thực. Đây là kịch bản đã cảnh báo từ trước khi mà theo quy luật, cuối năm luôn là thời điểm doanh nghiệp tăng mạnh cầu ngoại tệ thanh toán nợ, cộng thêm các yếu tố như tăng trưởng tín dụng ngoại tệ năm nay quá cao và diễn biến cầu ngoại tệ để nhập khẩu vàng đã khiến tình hình khan hiếm ngoại tệ càng thêm trầm trọng.
 |
<>
* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:"Table Normal";
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshostyle>
Thứ tư, tình trạng nợ xấu của các ngân hàng đang gia tăng. Tăng từ mức 2,16% cuối năm 2010 đến cuối tháng 7 nợ xấu là 3,04%/tổng dư nợ cho vay.
4. Xuất nhập khẩu
Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm vẫn tiếp tục diễn biến khá sôi động. Tuy nhiên, trong thời gian này cần tập trung tháo gỡ những khó khăn nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực như nông sản và da giày để hoàn thành tốt kế hoạch đã đặt ra.
Trong các mặt hàng nông sản, do nguồn cung về gạo và hồ tiêu hạn chế nên cần theo dõi sát thị trường để có những điều chỉnh hợp lý. Ngoài ra, do lượng hàng cà phê tồn kho đang cạn kiệt nên có thể kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này sẽ giảm. Tương tự như cà phê, kim ngạch xuất khẩu cao su cũng có khả năng giảm vì nhu cầu cao su của thế giới đang có xu hướng chững lại.
Đối với mặt hàng da giày, kể từ khi không chịu mức áp thuế chống bán phá giá 10% ở thị trường EU, mặt hàng này đã có vị thế cạnh tranh công bằng so với các đối thủ khác như Ấn Độ, Thái Lan. Do đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng da giày vẫn tiếp tục đạt những con số khả quan, tính đến hết tháng 8 đạt 4,2 tỷ USD. Tuy nhiên, mặt hàng nàysẽ bị áp thuế chống bán phá giá trở lại nếu EU tìm thấy chứng cứ kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này gia tăng đột biến cùng với việc giảm giá xuất khẩu. Vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu nên có các giải pháp đề phòng, tránh bị rơi vào cảnh bị EU áp thuế bằng cách doanh nghiệp cố gắng lựa chọn đơn hàng giá trị cao, tránh đơn hàng lớn nhưng giá thấp. Đặc biệt, thay vì cạnh tranh bằng giá thì doanh nghiệp cần hướng sự tập trung đầu tư cho thương hiệu, sản phẩm chất lượng, đặc biệt là những sản phẩm có tính khác biệt.
II. Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2011
1. Tăng trưởng kinh tế
Việc suy giảm tăng trưởng của nhiều ngành so với năm 2010 trong lúc nền kinh tế còn nhiều yếu tố bất lợi cho thấy nhiều khả năng tăng trưởng năm 2011 sẽ đạt thấp hơn các năm trước. Trong những tháng cuối năm việc tiếp tục chính sách tiền tệ thắt chặt và tiếp cận nguồn vốn cho các ngành sản xuất chưa được cải thiện nhiều sẽ là yếu tố gây khó khăn cho khối ngành này. Tuy vậy, hy vọng hiệu quả của các chính sách sẽ phát huy tác dụng trong trong những tháng cuối năm 2011, lạm phát có thể được khống chế, lãi suất có thể giảm sẽ làm giảm bớt khó khăn của các ngành sản xuất. Dự báo GDP năm 2011 sẽ đạt mức 6,12%, trong đó ngành công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng là 6,9%; ngành nông, lâm thủy sản và dịch vụ lần lượt là 2,8% và 6,6%.
2. Lạm phát
Trong thời gian gần đây, giá cả hàng hóa trong nước đã có dấu hiệu ổn định hơn do các biện pháp kiềm chế lạm phát được thực theo Nghị quyết 11 đang dần phát huy tác dụng và nguồn cung các hàng hóa cơ bản được đảm bảo, đáp ứng nhu cầu cho sản xuất, tiêu dùng. Tuy nhiên những tháng còn lại của năm 2011 còn nhiều yếu tố có tác động đẩy giá lên cao:
- Giá nhiều loại hàng hóa trên thế giới có xu hướng tăng vào dịp cuối năm, cùng với tình trạng lạm phát gia tăng tại nhiều nước sẽ gây tình trạng giá lan tỏa của hàng hóa qua biên giới;
- Nguồn cung thực phẩm chưa thể nhanh chóng hồi phục do cần có độ trễ nhất định để tái sản xuất sau dịch bệnh. Ngoài ra, những tháng cuối năm dịch bệnh có thể bùng phát trên diện rộng, giá thức ăn chăn nuôi, lãi suất vay vốn ngân hàng tuy đã giảm nhưng vẫn cao và rất rất khó tiếp cận cũng đang hạn chế người dân tái đàn, mở rộng chăn nuôi;
- Giá điện, xăng dầu, than, đặc biệt là tác động tâm lý từ các dịch vụ y tế có xu hướng điều chỉnh tăng để bù đắp chi phí tăng; bên cạnh đó, chu kỳ tăng giá hàng hóa vào cuối năm thì hiện tượng mưa bão có thể làm gián đoạn nguồn cung hàng hóa và làm tăng giá cục bộ tại một số địa phương;
- Hiện tượng các mặt hàng lương thực, xăng dầu, thực phẩm như thịt lợn, thủy sản đã bị gom và xuất khẩu qua biên giới với khối lượng lớn đã gây mất cân đối nguồn cung hàng hóa trong nước trong thời gian qua có thể tiếp tục tái diễn vào dịp cuối năm.
- Đặc biệt vào dịp cuối năm, nhu cầu tiêu dùng tăng cao có thể đẩy giá của một số hàng hóa tăng nhanh.
Do đó, dự báo CPI năm 2011 tăng khoảng 19,15% (tháng 12/2010=1)
Nguồn: ncseif - Bộ KH-ĐT