Từ vụ án “Ra ngân hàng lấy tiền Công ty, ai phải bồi thường” đăng trên báo Pháp Luật TP.HCM ngày 10-10-2010, là chủ tài khoản một công ty khi đọc bài báo tôi hoàn toàn đồng tình với phán quyết của tòa phúc thẩm nhưng không đồng tình với phán quyết của tòa sơ thẩm và ý kiến của Luật sư Trần Ngọc Quý đoàn luật sư TP.HCM.
Tóm tắt vụ án như sau: Phước và hai đồng phạm cùng làm trong Công ty Cổ Phần P (Quận Tân Bình) đã lừa bảo vệ Công ty vào phòng kế toán trộm ủy nhiệm chi đã ký khống rồi ra Ngân hàng rút 3,6 tỷ đồng. Phán quyết của tòa án nhân dân thành phố là Ngân hàng có lỗi nên phải bồi thường cả gốc và lãi vì khi cho rút tiền chỉ đối chiếu chữ ký, con dấu mà không liên hệ với người có trách nhiệm của công ty để kiểm tra lại thông tin. Phán quyết của tòa phúc thẩm là Ngân hàng không có lỗi các bị cáo phải bồi thường cho công ty P.
Ý kiến luật sư Trần Ngọc Quý phải có hai vụ kiện, vụ kiện trước là các bị cáo phải bồi thường cho ngân hàng, kế tiếp Công ty đòi Ngân hàng bồi thường số tiền đã mất và quy trách nhiệm cho lỗi của Ngân hàng đã không xác minh khi cho rút tiền. Ý kiến của người viết về phán quyết của tòa án là các thẩm phán của toà sở thẩm và nhận định luật sư yếu kém về hoạt động của doanh nghiệp, kể cả ý kiến của viện kiểm soát là hủy án để điều tra nhằm xác định rõ lỗi rút tiền của Công ty Cổ phần thuộc về ai cũng chưa thỏa đáng.
Trước hết, khi công ty hoạt động kinh doanh, ủy nhiệm chi là một trong những chứng từ có giá trị khi có chữ ký của chủ tài khoản và con dấu công ty. Khi đặt bút ký khống vào Ủy nhiệm chi là đã thực hiện xong ý định rút tiền trong tài khoản mà không thể đỗ lỗi cho ngân hàng.
Ủy nhiệm chi ký khống nên Phước và đồng bọn đã ghi rõ họ tên, chứng minh thư người rút tiền, nhân viên Ngân hàng chỉ có nhiệm vụ đối chiếu chứng minh thư, so sánh chữ ký chủ tài khoản và con dấu thì nhiệm vụ của họ là chi tiền. Trong vụ án này là bài học về sự bất cẩn của chủ tài khoản và phải chịu trách nhiệm liên đới vì tạo điều kiện cho Phước lấy tiền Công ty ở Ngân hàng. Bên cạnh, người quản lý con dấu công ty cũng là người liên quan.
Khi phát hiện, Công ty phải làm đơn tố cáo nhân viên lấy tiền gửi đến cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết, ở đây với tư cách là người liên quan nếu ngân hàng chứng minh việc trả tiền là đúng người sau khi so sánh chữ ký chủ tài khoản và con dấu công ty.
Vụ án mà chúng tôi đề cập tiếp là vụ án đòi nợ xảy ra tại Thị xã Vĩnh Long. Theo đơn khởi kiện thì ngày 01-10-2008, DNTN V.T có điạ chỉ tại Quận Tân Phú TPHCM kiện đại lý bia nước giải khát Ngọc Huệ do Võ Văn Thụ và chị Huệ làm chủ, với lý do là hai bên mua bán từ tháng 06-2006 đến ngày 19-08-2008 thì ngừng và còn nợ lại số vỏ chai và két nhựa tương ứng với số tiền là 63.653.500đ.
Tòa án nhân dân Thị xã Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long thụ lý vụ án từ ngày 13-10-2008. Qua xét xử sơ thẩm, sau đó viện kiểm soát kháng nghị, xét xử phúc thẩm hủy án, cuối cùng phiên phúc thẩm do thẩm phán Trần Thị Thúy Hồng chủ tọa là buộc bị đơn ông Trịnh Văn Hòa và bà Trần Thị Huệ trả cho ông V.T chủ DNTN V.T số tiền là 33.637.000đ.
Trong vụ án này cũng phản ảnh việc yếu kém của các thẩm phán khi giải quyết các vụ án liên quan đến doanh nghiệp. Đây là vụ án yếu chứng cứ, thiếu nhân chứng quan trọng nhất. Cụ thể là không đủ chứng cứ để tòa án đưa ra xét xử, bản chất của công nợ đã được bị đơn là ông Hòa xác nhận có mua hàng trôi nổi của một người tên Hà và với sự uy tín trên thương trường, Ông Hòa đồng ý gặp mặt ông Hà để đối chiếu và trả nợ.
Trước hết là vụ án kinh tế từ công nợ giữa hai pháp nhân kinh doanh. Chủ kinh doanh ở TP.HCM ông V.T có trình bày, ông trực tiếp mua bán với ông Hòa không có hợp đồng bằng văn bản, không có hợp đồng miệng, không có xác nhân công nợ, chỉ có một cuốn sổ đã cung cấp cho tòa án. Đối chiếu với lá đơn khởi kiện thì ông không biết ông Hòa mà chỉ biết ông Thụ. Ông Thắng trình bày: ông trực tiếp mua bán với ông Hòa mà không mở mồm (hợp đồng miệng không có) thì làm sao gọi là mua bán.
Cuốn sổ mua bán đã ghi rõ ở điểm ghi chú là phải có dấu của doanh nghiệp thì mới có giá trị, mà đã là sổ thì phải có dấu giáp lai nhưng cuốn sổ mà ông Thắng cung cấp, cho thấy không đủ chứng cứ về nội dung mua bán và nợ nần. Tại cuốn sổ ghi ngày 19-08-2008 chỉ là K.Nhựa còn nợ 1035 mà chữ ký là của ông Thắng chứ không phải của người giao hàng (cung tiêu) cũng không có giá trị, nếu là chứng cứ phải ghi rõ két nhựa, vỏ chai …
Vì DNTN. V.T là pháp nhân kinh doanh mỗi lần giao hàng phải có hóa đơn kèm theo, phải có hợp đồng đại lý, phải có giấy xác nhận vệ sinh an toàn thực phẩm…
Việc tòa thụ lý hồ sơ, chỉ giải quyết và phán quyết công nợ theo lời khai của nguyên đơn, vừa không căn cứ vào quy định của pháp nhân kinh doanh để chấn chỉnh sai phạm là tạo điều kiện cho doanh nghiệp trốn thuế, mua bán trôi nổi trên thị trường, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh tại địa phương.
Tòa án là nơi trọng chứng hơn trọng cung. Khi chứng cứ không đủ có thể bổ sung thêm lời khai nhưng phải nghe cả hai phía, phải cân nhắc thấu tình đạt lý. Trong trường hợp này DNTN V.T phải xuất trình nguồn gốc xuất xứ nơi sản xuất, kê khai thuế và phiếu xuất kho khi hàng ra khỏi kho là quy định bắt buộc nhưng đã không được tòa án lưu ý do không hiểu biết về kinh doanh trong khi đó DNTN V.T có đến 4-5 đại lý tại địa bàn, qua vụ kiện đã tiếp tay cho việc kinh doanh sai phạm của doanh nghiệp.
Từ sai phạm trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp đã nhờ đến tòa án để đòi nợ hợp pháp chỉ sau hơn 1 tháng kết thúc mua bán được thụ lý, dù người bị kiện là ông Võ Văn Thụ nhưng trong quá trình giải quyết vụ án không thấy đề cập, điều bất thường của vụ án là tòa thụ lý đơn kiện mà không yêu cầu nguyên đơn cung cấp giấy xác nhận công nợ.
Việc mua bán mới chấm dứt hơn 1 tháng thì việc xác nhận công nợ là không khó khăn. Không xác minh rõ lời khai của nguyên đơn là mua bán trực tiếp với ông Hòa bà Huệ nhưng lời khai của ông Hòa thì nói chưa gặp ông V.T bao giờ. Trong vụ án này để đảm bảo quyền lợi cho DNTN V.T thì chính ông V.T phải tìm được ông Hà là người trực tiếp giao hàng và ký nhận nợ với ông Hoà bà Huệ. Ông Hòa có thể giao tiền, hàng cho ông V.T khi có sự đồng ý của Ông Hà. Theo thông lệ mua bán cụ thể trên thương trường, do phương pháp tổ chức mua bán tùy tiện của doanh nghiệp thì rủi ro có lúc sẽ đến, tòa án phải dựa vào quy định của pháp luật về pháp nhân kinh doanh để giải quyết.
Với số tiền công nợ là không lớn nhưng phán quyết của tòa chưa thấu tình đạt lý.
Để giữ uy tín cho ngành tòa án, tòa án cấp trên cần rút hồ sơ để xem xét điều chỉnh kịp thời những thiếu sót của bản án phúc Thẩm do thẩm phán Trần Thị Thúy Hồng là một ví dụ.
Mấy năm trước ngành tòa án đã có sự nhận xét về trình độ của nhiều thẩm phán còn yếu, còn thiếu và đặc biệt là khi phân cấp giải quyết các vụ án hành chính, dân sự, kinh tế, hình sự, nhiều thẩm phán còn yếu về chuyên sâu, nên chăng các vụ án về hành chính, kinh tế, tòa án cần quy định giải quyết ở cấp tỉnh thành phố với lộ trình 3-5 năm để đào tạo thẩm phán chuyên sâu, sau đó hướng dẫn giải quyết các vụ án từ đơn giản đến phức tạp.
Từ vụ án rút tiền ngân hàng nêu trên đến vụ án đòi nợ ở Vĩnh Long cho thấy trình độ thẩm phán tòa án thành phố, của tỉnh cũng đang rất hạn chế chuyên môn về giải quyết các vụ án kinh tế cần được ngành tòa án quan tâm hơn nữa.
HÒA BÌNH