Theo số liệu thống kê của Tổng Cục Hải quan, chỉ trong 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Xri Lan-ca đã có những biến chuyển mạnh mẽ. Tổng kim ngạch hai chiều xấp xỉ đạt 72 triệu USD, tăng 73,1% so với cùng kỳ năm ngoái (41,6 triệu USD). Trong đó, xuất khẩu đạt 51,5 triệu USD, tăng tới 98% và nhập khẩu đạt 20,5 triệu USD, tăng 31,41%.
Đơn vị: triệu USD
|
|
9 tháng 2011
|
9 tháng 2010
|
Tăng / Giảm (%)
|
|
Xuất khẩu
|
51,5
|
26
|
+ 98
|
|
Nhập khẩu
|
20,5
|
15,6
|
+ 31,41
|
|
Cán cân
|
31
|
10,4
|
+198
|
|
Tổng kim ngạch
|
72
|
41,6
|
+ 73,1
|
|
A – Xuất khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng Việt Nam sang Xri Lan-ca trong 9 tháng đầu năm 2011 đã có bước tiến vượt bậc, tăng 98% so với cùng kỳ năm ngoái 2010. Trong các mặt hàng chủ lực, xuất hiện một số mặt hàng tiềm năng mới, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này, như bao túi (xấp xỉ 7 triệu USD, đứng thứ 2 trong các mặt hàng xuất khẩu), bia (5,4 triệu USD), điện thoại di động và linh kiện (2,13 triệu USD). Bên cạnh đó, một số mặt hàng đã tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng, tạo ra sự khác biệt lớn so với cùng kỳ năm ngoái, đặc biệt là mặt hàng bánh, kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc, tăng từ 6,448 USD năm 2010 lên tới hơn 8 triệu USD trong 9 tháng năm 2011, trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Xri Lan-ca. Ngoài ra, có thể kể tới một số mặt hàng như chất dẻo nguyên liệu (từ 394,170 USD lên 3,9 triệu USD), chè (từ 255,546 USD lên 3,7 triệu USD), clanhke (từ 747,207 USD lên 3,15 triệu USD)… Tuy nhiên, trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng đã bị sụt giảm, đáng kể nhất là mặt hàng sợi các loại (năm 2010, mặt hàng sợi đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Xri Lan-ca, đạt xấp xỉ 6,5 triệu USD, nhưng đến tháng 9 năm 2011, con số này chỉ là 41,238 USD), hàng hóa khác (giảm từ 5,4 triệu USD năm 2010 xuống 929,069 USD), sắt thép các loại (từ 1,4 triệu USD xuống 42,840 USD).
Một số mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường Xri Lan-ca:
Đơn vị: USD
|
Tên mặt hàng
|
9 tháng 2011
|
9 tháng 2010
|
Tăng/Giảm
|
|
Bánh, kẹo & sản phẩm từ ngũ cốc
|
8,060,556
|
6,448
|
8,054,108
|
|
Bao túi thuộc chương 63
|
6,975,724
|
|
6,975,724
|
|
Bia
|
5,406,512
|
|
5,406,512
|
|
Cao su
|
4,752,717
|
4,895,435
|
-142,718
|
|
Chất dẻo nguyên liệu
|
3,902,324
|
394,170
|
3,508,154
|
|
Chè
|
3,709,415
|
255,546
|
3,453,869
|
|
Clanhke
|
3,152,606
|
747,207
|
2,405,399
|
|
Dây điện & dây cáp điện
|
2,348,178
|
47,187
|
2,300,991
|
|
Điện thoại di động và linh kiện
|
2,128,291
|
|
2,128,291
|
|
Giấy các loại
|
1,593,150
|
26,593
|
1,566,557
|
|
Gỗ & sản phẩm gỗ
|
1,211,557
|
9,019
|
1,202,538
|
|
Hàng hải sản
|
1,164,720
|
632,483
|
532,237
|
|
Hàng hoá khác
|
929,069
|
5,409,468
|
-4,480,399
|
|
Hàng rau quả
|
763,842
|
181,767
|
582,075
|
|
Hạt điều
|
420,914
|
458,172
|
-37,258
|
|
Hoá chất
|
387,425
|
119,971
|
267,454
|
|
Kính xây dựng
|
358,393
|
275
|
358,118
|
|
Sản phẩm chất dẻo
|
146,975
|
68,462
|
78,513
|
|
Sản phẩm dệt may
|
144,532
|
1,300
|
143,232
|
|
Sản phẩm gốm, sứ
|
91,786
|
20,181
|
71,605
|
|
Sản phẩm hoá chất
|
87,631
|
580,955
|
-493,324
|
|
Sản phẩm mây, tre, cói & thảm
|
74,715
|
232
|
74,483
|
|
Sản phấm sắt thép
|
59,394
|
16,320
|
43,074
|
|
Sản phẩm từ cao su
|
56,625
|
89,824
|
-33,199
|
|
Sản phẩm từ giấy
|
49,910
|
226,021
|
-176,111
|
|
Sắt thép các loại
|
42,840
|
1,364,893
|
-1,322,053
|
|
Sợi các loại
|
41,238
|
6,425,834
|
-6,384,596
|
|
Túi xách, ví, vali, mũ & ô dù
|
12,498
|
1,250
|
8,054,108
|
|
Vải
|
12,027
|
2,115,881
|
6,975,724
|
|
Xe máy nguyên chiếc
|
2,436
|
8,278
|
5,406,512
|
|
Tổng kim ngạch xuất khẩu
|
51,529,976
|
26,056,388
|
25,473,588
|
|
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
B – Nhập khẩu
Trong số các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Xri Lan-ca trong 9 tháng đầu năm 2011, cao su là mặt hàng duy nhất có kim ngạch trên 1 triệu USD. Cao su là sản phẩm truyền thống và xuất khẩu chủ yếu của Xri Lan-ca. Hiện nay, Xri Lan-ca là nước đứng đầu thế giới về sản xuất cao su bán thành phẩm. Đây cũng là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cũng như chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này, tăng từ 287,487 USD lên 16 triệu USD, chiếm 78,5% trong tổng kim ngạch. Các mặt hàng khác tuy có tốc độ tăng trưởng tốt so với năm ngoái, như chất dẻo nguyên liệu, máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng… nhưng kim ngạch nhập khẩu từ Xri Lan-ca của những mặt hàng này vẫn còn thấp hoặc không đáng kể. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn năm ngoái, như thức ăn gia súc và nguyên liệu (xấp xỉ 11 triệu USD), hoặc vải (2,7 triệu USD), đã giảm đáng kể (xuống còn 2,740 USD và 2,267 USD tương ứng).
Một số mặt hàng nhập khẩu từ thị trường Xri Lan-ca:
Đơn vị: USD
|
Tên mặt hàng
|
9 tháng 2011
|
9 tháng 2010
|
Tăng/Giảm
|
|
Cao su
|
16,035,807
|
287,487
|
15,748,320
|
|
Chất dẻo nguyên liệu
|
893,483
|
85,676
|
807,807
|
|
Giấy các loại
|
613,383
|
|
613,383
|
|
Gỗ & sản phẩm gỗ
|
610,258
|
|
610,258
|
|
Hàng hoá khác
|
573,342
|
947,356
|
-374,014
|
|
Máy móc thiết bị, dụng cụ & phụ tùng
|
451,948
|
46,800
|
405,148
|
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện
|
295,366
|
|
295,366
|
|
Nguyên phụ liệu dệt may, da & giày
|
268,869
|
390,448
|
-121,579
|
|
Sản phẩm chất dẻo
|
243,981
|
200
|
243,781
|
|
Sản phẩm dệt may
|
196,441
|
|
196,441
|
|
Sản phẩm hoá chất
|
192,107
|
64,149
|
127,958
|
|
Sản phẩm từ cao su
|
26,889
|
64,190
|
-37,301
|
|
Sản phẩm từ giấy
|
9,415
|
97,624
|
-88,209
|
|
Sợi các loại
|
4,972
|
11,834
|
-6,862
|
|
SP đá thuộc chương 68
|
4,691
|
|
4,691
|
|
Thức ăn gia súc & nguyên liệu
|
2,740
|
10,878,093
|
-10,875,353
|
|
Vải
|
2,267
|
2,717,109
|
-2,714,842
|
|
Tổng kim ngạch nhập khẩu
|
20,425,959
|
15,595,366
|
4,830,593
|
|
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Với tốc độ tăng trưởng cũng như kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, tốc độ xuất siêu từ Việt Nam sang thị trường Xri Lan-ca đã tăng lên nhanh chóng, ở mức 31 triệu USD, tăng 198% so với cùng kỳ năm 2010. Xri Lan-ca là thị trường với dân số hơn 21,1 triệu dân. Kể từ sau năm 2002, kinh tế của Xri Lan-ca đã phát triển nhanh, đạt tốc độ tăng GDP trung bình là 6%/năm, là một trong những quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất khu vực Nam Á (sau Man-đi-vơ và Bu-tan). Do đó, cùng với tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu nhanh như hiện nay, đây là một thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất nhập khẩu sang thị trường này vẫn có giá trị khiêm tốn.
Ước tính hết năm 2011, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Xri Lanca đạt khoảng 85 triệu USD, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam sang Xri Lanca khoảng 62 triệu USD và nhập khẩu khoảng 23 triệu USD.
Theo Bộ Công Thương
|