<>
Kinh tế Việt Nam trong 06 tháng đầu năm 2011 diễn biến theo chiều hướng xấu, nổi bật là tình trạng lạm phát gia tăng mạnh, chỉ số CPI tính đến tháng 6/2011 tăng 13,29% so với tháng 12/2010 và tăng 20,82% so với cùng kỳ năm 2010; trong khi đó tăng trưởng GDP chỉ ở mức trung bình (GDP trong sáu tháng đầu năm 2011 ước tính tăng 5,57% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó quý I tăng 5,43%; quý II tăng 5,67%); tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại chưa có dấu hiệu được cải thiện (bội chi ngân sách của Việt Nam luôn ở mức 5%GDP từ nhiều năm nay; thâm hụt thương mại tính đến 15/5 là 5.8 tỷ USD, tăng tới 13% so với cùng kỳ năm 2010 và dự báo vào khoảng 7,5 tỷ USD trong 06 tháng đầu năm). Diễn biến trên được thể hiện rất rõ qua diễn biến ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong 06 tháng đầu năm 2011, chỉ số Vnindex đã có lúc giảm xuống mức 371 điểm ngày 26/5/2011và Hnindex cũng đã thiết lập mức đáy mới trong lịch sử của mình với 69 điểm ngày 25/5/2011.
Một số điểm lưu ý trong giai đoạn sụt giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam 06 tháng đầu năm 2011:
- Chỉ số VNI bị thao túng bởi một nhóm cổ phiếu có vốn hóa lớn tiểu biểu là BVH, MNS, VIC, DPM, VCB, CTG, VNM, đây cũng là những cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của khối ngoại. Động thái này đã giúp cho VNI neo tại khu vực 450 – 480 điểm trong một thời gian khá dài trước khi sụt giảm mạnh từ giữa tháng 5. Trong khi đó, chỉ số HNX phản ánh trung thực hơn so với VNI do không bị bóp méo bởi một số cổ phiếu vốn hóa lớn, do đó nhiều cổ phiếu tại đây đã sụt giảm khá sâu, đa số mất giá từ 50 – 100% thị giá so với mức đầu năm và hiện theo thống kê có tới 2/3 cổ phiếu có thị giá dưới mệnh giá. Với việc sụt giảm trong suốt thời gian trên thì hiện chỉ số P/E toàn thị trường chỉ còn khoảng 8.5, mức khá thấp so với các thị trường chứng khoán các nước trên thế giới. Thực tế, nếu loại bỏ nhóm 03 cổ phiếu BVH, MSN, VIC thì thực tế Vnindex hiện đang ở mức 300 điểm, khá gần với mức đáy thiết lập trong tháng 2/2009.
- Hoạt động giải chấp diễn khá mạnh do thị trường giảm sút mạnh khiến cho bộ phận nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy cao phải thanh lý bớt danh mục đầu tư để trả nợ, trong khi đó các CTCK cũng mạnh tay trong việc giảm hạn mức cho vay đối với các nhà đầu tư nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn và giảm thiểu rủi do triển vọng thị trường không mấy sáng sủa. Thực tế chúng ta vẫn chưa thể xác định chính xác được số lượng nợ xấu tại các công ty chứng khoán, một số bài viết cho rằng các khoản phải thu của các CTCK hiện khoảng 11.200 tỷ đồng, đây thực sự là vấn đề không chỉ đối với các CTCK mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngân hàng do đa số các CTCK tại Việt Nam đều công ty con hoặc có liên hệ mật thiết với các NHTM, hiện theo thống kê tại Tp. Hồ Chí Min tính đến hết tháng 4, nợ xấu của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tăng lên 4,2% so với tháng trước là 3,9% trong đó các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính có nợ xấu lên đến 26,3%, ngân hàng quốc doanh 5,6%, NHTMCP ở mức 2,9%;
- NĐT trong nước gần như mất hết niềm tin vào thị trường, một bộ phận tỏ ra bức xúc trước cách hành xử của những người có trách nhiệm khi không có một động thái đáng kể nào giúp hỗ trợ nhà đầu tư và nâng cao tính thanh khoản của thị trường như cho phép thanh toán T+2, miễn thuế thu nhập chứng khoán... Tuy mới đây Bộ Tài chính (1/6) đã ban hành Thông tư 74/2011/TT-BTC hướng dẫn hoạt động giao dịch chứng khoán, mặc dù nội dung thông tư có nhiều điểm tích cực như cho phép giao dịch ký quỹ (Margin), mua bán trong phiên, mở nhiều tài khoản qua đó hợp thức hóa các hình thức giao dịch đã được hầu hết các CTCK sử dụng, tuy nhiên nội dung được NĐT mong đợi nhất là thanh toán T+2 vẫn chưa được đề cập. Dù sao Thông tư này được đánh giá là liều thuốc cần thiết nhằm giải tỏa phần nào tâm lý của NĐT thời gian qua.
- NĐT nước ngoài vẫn liên tục mua ròng tuy nhiên giá trị mua ròng đã giảm khoảng một nửa so với cùng kỳ năm 2010 đạt mức 3,620 tỷ đồng, tập trung vào các mã truyền thống như VNM, CTG, DPM, VCB, PVD, HAG trên sàn Hose và PVS, VCG, PVX… trên sàn Hax. Tuy nhiên xu hướng này đã gặp thử thách thời gian khi thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang trong xu hướng giảm trung hạn và triển vọng kinh tế chưa có nhiều tiến triển.
Triển vọng thị trường những tháng cuối năm 2011
- Trong những tháng tới triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế thế giới vẫn bấp bênh do nguy cơ lạm phát gia tăng và tình trạng nợ công tại EU vẫn diễn biến phức tạp, hiện Goldman Sachs đã hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới từ mức 4,8% hồi giữa tháng 4/2011 xuống còn 4,3%; UBS AG cũng hạ mức dự báo từ mức 3,9% hồi tháng 1/2011 xuống còn 3,6%. Bên cạnh đó, nhiều khả năng Chính phủ vẫn tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ - tài chính thắt chặt nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô đề ra như kiềm chế lạm phát dưới 15%, tăng trưởng GDP khoảng 6%, bội chi ngân sách dưới 5%, nhập siêu khoảng 18% kim ngạch xuất khẩu. Do đó, xu hướng nới lỏng có lẽ chỉ có thể diễn ra trong những tháng cuối năm 2011 và đầu năm 2011 khi lạm phát thực sự nằm trong tầm kiểm soát và nền kinh tế đi vào ổn định. Trong khi nhiều chuyên gia dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2011 lên tới 17-18%, HSBC còn bi quan hơn khi cho răng lạm phát Việt Nam có thể vượt 20% thì chúng tôi cho rằng lạm phát Việt Nam sẽ giảm dần từ tháng 6 và lạm phát cả năm 2011 vào khoảng 15 – 16%. Một số lý do cho nhận định trên là: (i) Các chính sách thắt chặt của Chính phủ sẽ phát huy hiệu quả mạnh nhất trong quý III và IV sau độ trễ khoảng 3 – 4 tháng; (ii) Giá cả các mặt hàng trong nước và giá lương thực, thực phẩm và dầu mỏ, gas trên thế giới sẽ giảm dần sau khi tăng mạnh thời gian qua; (iii) Chủ trương hạn chế tăng trưởng các phương tiện thanh toán.
Một số nhân tố cản trở cho sự phục hồi của thị trường NĐT cần lưu ý gồm: (1) Vấn đề giải chấp tại các công ty chứng khoán nhằm thu hồi vốn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn mới chỉ ở giai đoạn ban đầu khi thị trường bắt đầu sụt mạnh mạnh từ giữa tháng 5; và quá trình này cần thời gian do thanh khoản thị trường trong giai đoạn vừa qua ở mức thấp; (2) Tín dụng và nguồn tiền đổ vào thị trường sẽ tiếp tục hạn chế do Chính phủ khó nới lỏng sớm như trong năm 2008 (bắt đầu từ quý III, khi lạm phát đã giảm mạnh và nền kinh tế thế giới bắt đầu rơi vào suy thoái) do hiện việc giảm tỷ trọng cho vay phi sản suất trong hệ thống ngân hàng mới chỉ ở giai đoạn ban đầu và chưa giảm được nhiều. Thống kê tính đến hết tháng 5/2011 cho thấy kể từ thời điểm 3/2011 đến nay thì tỷ lệ này chỉ giảm được khoảng 1 – 2%, chỉ bằng khoảng 1/3 so với yêu cầu từ NHNN, và hiện vẫn có tới 14 ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vượt mức 20%, nguyên nhân chủ yếu do việc thu hồi từ cho vay bất động sản gặp nhiều khó khăn do thị trường ảm đảm, giá và thanh khoản sụt giảm mạnh, trong khi đó hầu hết các khoản vay này có kỳ hạn lớn từ 3 – 5 năm. Nhiều ngân hàng đã đề xuất NHNN nâng tỉ trọng lên 24% vào cuối tháng 6/2011 giảm xuống còn 22% vào tháng 9 và mức 16% vào cuối năm 2011 để các Ngân hàng có thêm thời gian thu hồi nợ. Điều này cho thấy các ngân hàng sẽ phải đẩy mạnh giảm tín dụng phi sản xuất thời gian tới trước áp lực về thời hạn do NHNN đặt ra, do đó việc nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa khó diễn ra cho tới cuối năm 2011; (3) Triển vọng doanh thu lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết, đặc biệt là lĩnh vực chứng khoán và bất động sản là khá xấu do sự suy giảm của thị trường bất động sản và sự đi xuống của thị trường chứng khoán.
Một số yếu tố thuận lợi cho thị trường:
- Hiện theo thống kê tính đến hết tháng 5/2011, tăng trưởng tín dụng mới đạt hơn 6% do vậy trong những tháng còn lại của năm 2011 nhiều khả năng chính sách tiền tệ sẽ được thả lỏng dần do chỉ tiêu trong năm nay là dưới 20%; trong khi đó tình hình lạm phát nhiều khả năng đã tạo đỉnh trong tháng 6/2011 và sẽ giảm dần trong nửa cuối năm, điều này sẽ là tiền đề cho việc hạ lãi suất của NHNN; hiện theo đánh giá của WB và IMF hiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang được cải thiện đáng kể và các biện pháp trong NQ11 đang phát huy tác dụng tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam, tính đến hết tháng 5/2011 dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt xấp xỷ 13 tỷ USD, và lần đầu tiên trong nhiều tháng qua lãi suất huy động trái phiếu đã giảm từ mức 13,7% xuống còn 12,7% cho thấy cái nhìn về lạm phát của Việt Nam và triển vọng kinh tế vĩ mô đã được cải thiện rõ rệt.
- Một điểm đáng lưu ý là tuy Chính phủ chủ trương hạn chế tín dụng phi sản xuất, trong đó có chứng khoán, tuy nhiên thực tế tính theo giá trị thì lượng tiền cho chứng khoán Việt Nam trong năm 2011 vẫn tăng so với 2010, ngoài ra lượng tiền mặt trong dân và qua tích trữ USD, vàng đang có dấu hiệu chảy vào thị trường do sức hấp dẫn từ thị trường vàng, ngoại tệ không còn và lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng đã bắt đầu giảm. Điều này sẽ góp phần tạo ra luồng máu mới trẻ trung cho thị trường chứng khoán Việt Nam sau giai đoạn suy giảm và thăng trầm gần 3 năm qua.
Kết luận: Như chúng ta đã biết thị trường chứng khoán muốn tăng trưởng bền vững thì các yếu tố vĩ mô phải ổn định và chính sách tiền tệ - tài khóa được thực thi theo hướng nới lỏng, vì vậy việc tham gia thị trường chỉ nên cân nhắc từ cuối quý III, đầu quý IV với mục tiêu đầu tư trung và dài hạn, và việc mua cổ phiếu nên tập trung vào những mã có thanh khoản tốt, các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh và tăng trưởng bền vững. Đối với những nhà đầu tư ưa mạo hiểu có thể cân nhắc đầu tư vào mã ngành chứng khoán, đây là ngành có hệ số be ta cao và thường bật khá mạnh khi thị trường phục hồi.
<>
Nguyễn Như Vũ